Hiệu suất thể tích của động cơ đốt trong

Thứ Ba, 04/06/2024 - 16:23 - hoangvv

Đối với động cơ đốt trong, quá trình cháy phụ thuộc vào lượng không nhiêu liệu bên trong xi-lanh. Càng có nhiều không khí vào bên trong buồng đốt, chúng ta càng đốt cháy nhiều nhiên liệu, mô-men xoắn và công suất động cơ đầu ra càng cao.

Vì không khí có khối lượng nên nó có quán tính. Ngoài ra, đường ống nạp, các van và van tiết lưu cũng đóng vai trò hạn chế luồng không khí vào xi lanh. Bằng hiệu suất thể tích, chúng ta đo lường được công suất của động cơ lấp đầy thể tích hình học có sẵn của động cơ với không khí. Nó có thể được định nghĩa là tỉ số giữa thể tích không khí khi hút vào xilanh (thực) trên thể tích hình học của xilanh (thực).

Hiệu suất thể tích (VE) trong kỹ thuật động cơ đốt trong được định nghĩa là tỷ lệ giữa thể tích tương đương của không khí trong lành được hút vào xi lanh trong hành trình nạp (nếu khí ở điều kiện tham chiếu về mật độ) với thể tích của chính xi lanh.

Công thức tính toán hiệu suất thể tích

Hầu hết các động cơ đốt trong được sử dụng ngày nay trên các phương tiện giao thông cơ giới đều có xi lanh thể tích piston cố định, được xác định bằng đường kính của xi-lanh và cơ cấu trục khuỷu. Nói một cách chính xác, thể tích tổng của một động cơ Vt [m3] là hàm số được tính toán của tổng số xi lanh nc [-] và thể tích một xi lanh Vcyl [m3].

Vt = nc · Vcyl (1)

Thể tích tổng cộng của xilanh là tổng giữa thể tích công tác (thể tích quét của piston) Vd [m3] và thể tích cháy Vc [m3].

Vcyl = Vd + Vc (2)

Thể tích cháy rất nhỏ so với thể tích công tác (ví dụ: tỷ lệ 1:12) nên có thể bỏ qua khi tính hiệu suất thể tích của động cơ.

Hiệu suất thể tích ηv [-] được định nghĩa là tỷ số giữa thể tích thực tế (đo được) của không khí nạp Va [m3] được hút vào xi lanh/động cơ và thể tích lý thuyết của động cơ/xi lanh Vd [m3], trong chu kỳ động cơ nạp.

ηv = Va / Vd (3)

Hiệu suất thể tích cũng có thể được coi là hiệu suất của động cơ đốt trong để nạp khí nạp vào xi lanh. Hiệu suất thể tích càng cao thì lượng khí nạp vào động cơ càng cao.

Trong trường hợp động cơ phun nhiên liệu gián tiếp (chủ yếu là xăng) thì không khí nạp được trộn với nhiên liệu. Vì lượng nhiên liệu tương đối nhỏ (tỷ lệ 1:14,7) so với lượng không khí nên chúng ta có thể bỏ qua khối lượng nhiên liệu để tính hiệu suất thể tích.

Thể tích không khí nạp thực tế có thể được tính bằng hàm số của khối lượng không khí ma [kg] và mật độ không khí ρa [kg/m3]:

Va = ma / ρa (4)

Thay (4) vào (3) ta có hiệu suất thể tích bằng:

ηv = ma / (ρa · Vd) (5)

Thông thường, trên lực kế động cơ, lưu lượng khối không khí nạp được đo [kg/s] thay vì khối lượng không khí [kg]. Vì vậy, chúng ta cần sử dụng lưu lượng khối không khí để tính hiệu suất thể tích.

maf = (ma · Ne) / nr (6)

  • Ne [rot/s] – tốc độ động cơ
  • nr – số vòng quay trục khuỷu trong một chu trình đầy đủ của động cơ (đối với động cơ 4 kỳ nr = 2)

Từ phương trình (6), chúng ta có thể viết khối lượng khí nạp như sau:

ma = (maf · nr) / Ne (7)

Thay (7) vào (5) ta có hiệu suất thể tích bằng:

ηv = (maf · nr) / (ρa · Vd · Ne) (8)

Hiệu suất thể tích tối đa là 1 (hoặc 100%). Ở giá trị này, động cơ có khả năng hút toàn bộ thể tích không khí lý thuyết có sẵn vào động cơ. Có những trường hợp đặc biệt trong đó động cơ được thiết kế đặc biệt cho một điểm vận hành mà hiệu suất thể tích có thể cao hơn 100% một chút.

Nếu áp suất không khí nạp pa [Pa] và nhiệt độ Ta [K] được đo trong đường ống nạp, thì mật độ không khí nạp có thể được tính như sau:

ρa = pa / (Ra · Ta) (9)

  • ρa [kg/m3] – mật độ không khí nạp
  • pa [Pa] – áp suất khí nạp
  • Ta [K] – nhiệt độ không khí nạp
  • Ra [J/kgK] – hằng số khí đối với không khí khô (bằng 286,9 J/kgK)

Bài liên quan

Chia sẻ

Tin cũ hơn

Phanh tự động không hiệu quả trong sương mù, trời tối, hay đường trơn?

Hệ thống phanh tự động khẩn cấp (AEB – Auto Emergency Braking) là một trong những công nghệ an toàn chủ động chủ chốt trong gói hỗ trợ lái nâng cao (ADAS – Advanced Driver Assistance Systems), hiện đang được trang bị ngày càng phổ biến trên nhiều dòng xe hiện đại nhằm tăng cường khả năng phòng tránh tai nạn cho người lái và hành khách.

Hệ thống hỗ trợ giữ làn đường LKA là gì

Hệ thống hỗ trợ giữ làn đường LKA (Lane Keeping Assist) là một phiên bản nâng cấp của hệ thống cảnh báo lệch làn đường LDWS. Trong trường hợp tài xế không có phản hồi khi xe phát ra tín hiệu cảnh báo lệch làn thì hệ thống sẽ tự động điều hướng xe về đúng làn đường đang đi.

Hệ thống hỗ trợ tắc đường hoạt động ra sao? Tài xế cần lưu ý gì?

Hiện nay, nhiều mẫu ô tô hiện đại đã được trang bị hệ thống hỗ trợ giao thông tắc đường (Traffic Jam Assist - TJA), một công nghệ hỗ trợ lái tiên tiến giúp giảm tải áp lực cho người điều khiển khi di chuyển trong điều kiện ùn ứ. Vậy TJA thực sự hoạt động như thế nào và mang lại lợi ích gì cho người dùng trong thực tế?

Đảo lốp ô tô sai cách: Chi tiết nhỏ nhưng hậu quả lớn mà tài xế dễ bỏ qua

Mặc dù lốp xe ô tô được thiết kế nhằm đảm bảo khả năng chịu tải, tăng độ bám đường và hỗ trợ ổn định trong quá trình vận hành, nhưng không phải tất cả các loại lốp đều có cấu trúc hay cách đảo lốp giống nhau. Tùy vào kiểu gai lốp và cấu trúc thiết kế như lốp định hướng, lốp bất đối xứng hay lốp đối xứng – quy trình đảo lốp và lắp đặt sẽ có những nguyên tắc kỹ thuật riêng biệt. Việc hiểu đúng và áp dụng đúng cách là yếu tố then chốt để duy trì hiệu suất, độ bền và độ an toàn của lốp xe trong suốt quá trình sử dụng.

Động cơ BMW N55: Ưu nhược điểm và những vấn đề cần lưu ý

Trong bài viết kỹ thuật hôm nay, trung tâm VATC sẽ cùng bạn khám phá chi tiết về động cơ BMW N55, bao gồm tổng quan giới thiệu, các đặc điểm nổi bật của động cơ và những thông tin quan trọng liên quan.

Có thể bạn quan tâm